Trang chủ

Luật sư cho bạn - "Trao niềm tin - nhận hạnh phúc"

HTC Việt Nam mang đến "Hạnh phúc -Thành công - Cường thịnh"

TRAO NIỀM TIN - NHẬN HẠNH PHÚC

CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ TỐT NHẤT

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

giảm thiếu chi phí- tiết kiệm thời gian

​HÀNH VI XÂM PHẠM NHÃN HIỆU - NHỮNG DẤU HIỆU NHẬN BIẾT


Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Việc xâm phạm nhãn hiệu khiến cho khách hàng dễ bị nhầm lẫn hàng hóa giữa các công ty với nhau, đặc biệt là đối với những trường hợp cố tình làm nhái, làm giả gây thiệt hại cho nhà sản xuất sản phẩm lẫn người tiêu dùng. Như vậy, hành vi nào bị coi là hành vi xâm phạm nhãn hiệu? Những hành vi đó có dấu hiệu gì? Bài viết sau đây sẽ giúp các bạn trả lời các câu hỏi đó!

1. Thế nào là hành vi xâm phạm nhãn hiệu?

Khi nhãn hiệu đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định và được đăng kí hợp pháp thì sẽ được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản liên quan. Pháp luật ghi nhận một số quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đã được đăng kí. Cách hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu có thể là việc vi phạm quyền độc quyền khai thác và sử dụng nhãn hiệu đã đăng kí, quyền chuyển giao quyền sử dụng cũng như chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu cho người khác và quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình. Do vậy, những hành vi sử dụng nhãn hiệu của bất kì người thứ ba nào mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đều bị coi là hành vi xâm phạm nhãn hiệu.

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

2. Hành vi xâm phạm nhãn hiệu có những dấu hiệu gì?

Tại khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các hành vi bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu như sau:

Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

- Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

- Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Đồng thời tại Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ- CP cũng đã hướng dẫn những yếu tố bị coi là xâm phậm nhãn hiệu. Theo đó:

Thứ nhất, yếu tố xâm phạm đối với nhãn hiệu

Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ.

Thứ hai, căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, gồm mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch vụ được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam.

Thứ ba, điều kiện xác định yếu tố xâm phạm

Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với nhãn hiệu, đồng thời phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Chỉ có thể khẳng định có yếu tố xâm phạm khi đáp ứng cả hai điều kiện sau đây:

- Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

- Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.

Thứ tư, dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là yếu tố xâm phạm đối với nhãn hiệu nổi tiếng

- Dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện là Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

- Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện quy định là hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ hoặc hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

3. Có trường hợp nào ngoại lệ không?

Câu trả lời là có. Không phải mọi hành vi sử dụng nhãn hiệu mà chưa có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đều là hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Để tránh tình trạng độc quyền một cách tuyệt đối của chủ sở hữu và cũng đồng thời để cân bằng lợi ích xã hội, pháp luật cũng ghi nhận những trường hợp ngoại lệ của việc sử dụng nhãn hiệu. Theo đó, tại Điểm h Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định nếu cá nhân, tổ chức “sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ” mà việc sử dụng này trùng với 1 nhãn hiệu được bảo hộ thì không bị xem là hành vi xâm phạm nhãn hiệu.

Như vậy, khi một hành vi có các dấu hiệu được nêu trên đây bị coi là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và sẽ phải chịu những chế tài nhất định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu đang được pháp luật bảo hộ.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôivề các hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Công ty TNHH Luật HTC Việt Nam rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng trong việc giải quyết mọi vấn đề pháp lí về sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ nói riêng. Hãy liên hệ với chúng tôi để được sử dụng dịch vụ tư vấn một cách tốt nhất

-------------------------------------------------------

Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam

Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà CT1, Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì, Đường Vũ Quỳnh, Phường Mỹ Đình 1, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Mobile: 0989.386.729; 0967.927.483.

Email: htcvn.law@gmail.com

Website: https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn.

(Nguyễn Thị Thùy Dung)

------------------------------------------

Quý khách có thể tham khảo những bài viết có liên quan sau đây:

Tên nhãn hiệu - Những điều cần lưu ý

Hướng dẫn thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

Thủ tục đăng ký nhãn hiệu

Tư vấn hướng dẫn thời điểm xác lập quyền đối với nhãn hiệu