Trang chủ

Luật sư cho bạn - "Trao niềm tin - nhận hạnh phúc"

HTC Việt Nam mang đến "Hạnh phúc -Thành công - Cường thịnh"

TRAO NIỀM TIN - NHẬN HẠNH PHÚC

CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ TỐT NHẤT

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

giảm thiếu chi phí- tiết kiệm thời gian

Tư vấn pháp luật về quyền tác giả

“Mặc dù tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều này không còn đúng nữa. Động lực mới để tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên Tri thức” - Kamil Idris – Tổng giám đốc sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Thật vậy, “tri thức” ngày nay đã trở thành một nấc thang giá trị mới, nguồn của cái mới để tạo ra sự thịnh vượng. Bảo hộ tài sản sở hữu trí tuệ đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong sự vận động của nền kinh tế thế giới. Là một bộ phận cấu thành nên tài sản trí tuệ, quyền tác giả đang là vấn đề được quan tâm cả về lí luận và thực tiễn trên toàn thế giới. Công ty TNHH Luật HTC Việt Nam rất hân hạnh được cung cấp đến quý khách hàng nội dung tư vấn làm rõ những quy định chung về quyền tác giả qua bài viết dưới đây.

1. Khái quát chung về quyền tác giả

1.1. Khái niệm

Quyền tác giả là phạm vi những quyền mà pháp luật thừa nhận và bảo hộ với tác giả có tác phẩm. Về quyền tác giả, Điều 738 Bộ luật dân sự và Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm. Căn cứ vào những quy định của pháp luật về quyền tác giả thì quyền tác giả được hiểu theo hai phương diện:

Quyền tác giả còn được hiểu là quan hệ pháp luật dân sự. Đó là quan hệ xã hội giữa tác giả, giữa chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác trong xã hội thông qua tác phẩm, dưới sự tác động của quy phạm pháp luật, quan hệ giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác được xác định, trong đó:

–Chủ thể của quyền tác giả là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền nhất định đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học khi đã được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định.

–Khách thể của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học do tác giả sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ.

–Nội dung quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả. Các quyền này phát sinh từ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.

1.2. Đặc điểm của quyền tác giả

Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào nội dung

Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ, không phụ thuộc vào giá trị nội dung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm. Pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ hình thức thể hiện dưới dạng nào đó mà không phản ánh hay không chứa đựng nội dung nhất định. Tác phẩm phải do tác giả trực tiếp thực hiện lao động trí tuệ củamình mà không phải sao chép từ tác phẩm của người khác.

Thứ hai, Quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm.

Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm.

Thứ ba, Hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động.

Quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào. Nhưng đối với quyền sở hữu công nghiệp, được xác lập dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc xét và cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng đó.

Thứ tư, Quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối .

Đối với tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm sao chụp thì cá nhân, tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nếu việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh, ảnh hưởng đến việc sử dụng, khai thác bình thường của tác phẩm, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.

3. Nội dung quyền tác giả

– Quyền nhân thân gồm:

+ Đặt tên cho tác phẩm: Khi sáng tạo ra tác phẩm, tác giả có toàn quyền quyết định trong việc lựa chọn, đặt tên hay thay đổi tên của tác phẩm. Cá nhân, tổ chức khác khi sử dụng tác phẩm phải giữ nguyên tên gọi, không được tự ý thay đổi, thêm hoặc bớt tên của tác phẩm, trừ trường hợp tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác;

+ Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng: Tác giả có quyền lựa chọn và quyết định đứng tên thật, bút danh hoặc không đứng tên. Quyền này được hiểu là quyền của tác giả yêu cầu được ghi tên trên bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm; được nêu tên ghi tác phẩm được biểu diễn, phát sóng;

+ Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm: Công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm (không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khâu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc);

+ Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả: Là việc không cho người khác thay đổi, thêm, bớt, xuyên tạc nội dung của tác phẩm trừ trường hợp được tác giả cho phép.

– Quyền tài sản gồm:

+ Làm tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Quyền làm tác phẩm phái sinh là quyền do tác giả tự thực hiện hoặc cho phép người khác sử dụng tác phẩm cuả mình để tạo ra tác phẩm mới (tác phẩm phái sinh);

+ Biểu diễn tác phẩm trước công chúng: Là quyền do chủ sở hữu tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được ở bất kỳ thời gian, địa điểm nào (ngoại trừ tại gia đình);

+ Sao chép tác phẩm: Sao chép là việc tạo ra một hay nhiều bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử;

+ Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm. Đối với tác phẩm tạo hình, tác phẩm nhiếp ảnh thì quyền phân phối còn bao gồm cả việc trưng bày, triển lãm trước công chúng;

+ Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác: Là quyền độc quyền thực hiện của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc cho phép người khác thực hiện để đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn;

+ Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính để sử dụng có thời hạn (thời hạn do các bên thỏa thuận tỏng hợp đồng).

Công ty TNHH Luật HTC Việt Nam rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng trong việc giải quyết mọi vấn đề pháp lí. Hãy liên hệ với chúng tôi để được sử dụng dịch vụ tư vấn một cách tốt nhất.

Mọi ý kiến thắc mắc cần giải đáp và đóng góp xin vui lòng liên hệ:

Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam

Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà SUDICO - CT1, Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì, Đường Vũ Quỳnh, Phường Mỹ Đình 1, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Mobile: 0989.386.729; 0967.927.483.

Email: htcvn.law@gmail.com

Website: https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn.